5 thg 10, 2015

Bí quyết học tiếng Anh của người Thụy Điển

Bạn đã biết chưa? Thụy Điển là đất nước lọt vào Top 3 quốc gia giỏi tiếng Anh nhất Thế giới đấy. Hãy cùng lắng nghe chia sẻ của cô Camilla Bjelkås, Cán bộ của Đại sứ quán Thụy Điển bật mí những nguyên nhân thầm kín xem bí kíp học tiếng Anh của họ là gì nhé!

Xem thêm:
Trên trang cá nhân Facebook của Đại sứ quán Thụy Điển tại Việt Nam, hôm nay, cô Camilla Bjelkås, cán bộ tổ chức sự kiện tại Đại sứ quán đã đưa ra 4 lời khuyên cho việc học tiếng Anh. Từ kinh nghiệm của chính mình, ngoài những bài học có được từ trong nhà trường, cô góp ý thêm rằng :
  1. Thụy Điển không lồng tiếng cho phim hoặc các kênh truyền hình nước ngoài trên TV. “Vì vậy, còn là một thiếu niên, tôi đã luôn che đi phần phụ đề khi xem phim bằng tiếng Anh hoặc các chương trình truyền hình”, cô Bjelkå nói.
  2. Ngoài ra, cô nghe rất nhiều nhạc của Anh, Mỹ và nghe các show trên đài phát thanh.
  3. Cô cũng đọc sách và tạp chí bằng tiếng Anh. Và tôi chỉ dùng từ điển khi tôi thực sự gặp khó khăn. Bình thường, bạn có thể đọc các bài viết, và đoán thử ngữ nghĩa của những từ mới.
  4. Đừng ngại nói. Bạn luôn luôn có thể nói tốt hơn nhiều so với suy nghĩ của bạn.
Bạn thấy đấy, chỉ với những bí kíp vô cùng đơn giản và tự nhiên thôi đã giúp Thụy điển lọt vào top 3 giỏi tiếng Anh nhất Thế giới rồi, vậy thì nếu tới Thụy điển chúng ta không còn lo lắng rào cản ngôn ngữ bởi việc bạn sử dụng tiếng Anh đã hoàn toàn giao tiếp được cùng họ rồi. Sức mạnh ngôn ngữ rất tuyệt vời phải không nào? Cùng ghi chép lại và thử thực hiện ngay những bí kíp ấy thôi nào :D

Nguồn: elight

10 lỗi ngữ pháp thường gặp khi học tiếng Anh

Hãy chú ý những lỗi ngữ pháp bé như con kiến nhưng tác động của nó lại như con voi sau đây để tăng trình tiếng Anh của mình bạn nhé ;)



Xem thêm:

1. Like – As

“Like”: tương tự như, giống như. Chú ý rằng chúng ta không thể sử dụng “as” theo cách này. Ví dụ:
  • What does Peter do? – He is a teacher like me.
  • It is raining again. I hate the weather like this.
  • This beautiful house is like a palace.
Trong ba câu trên, “Like” là một giới từ. Nó được theo sau bởi một danh từ hoặc một đại từ: Chúng ta có thể nói “Like (somebody / something) doing something”. Ví dụ:
What is that noise? – It sounds like a baby crying. => “Like” với nghĩa ví dụ như, chẳng hạn như: You can do some sports like horse-riding, car racing, etc.
Ta cũng có thể sử dụng “as” trong trường hợp này: You can do some sports, as horse-riding, car racing, etc. => Chúng ta sử dụng “as” trước chủ ngữ + động từ: We did as we promised.

2. One – a half

Câu sai: “I’ve been in France for one and a half month”. và Câu đúng: “I’ve been in France for one and a half months”.
Trong trường hợp này, “one and a half” lớn hơn một nên danh từ “month” phải ở dạng số nhiều là “months”. Chúng ta không nên tách thành “one month and a half” mặc dù như vậy cũng đúng về ngữ pháp.

3. The UK
Câu sai: “She likes UK very much”. và Câu đúng: “She likes the UK very much”. => “UK” là dạng viết tắt của “United Kingdom”; “Kingdom” là một danh từ và trước nó cần một mạo từ (hay quán từ: “a” hoặc “the”). Tuy nhiên chỉ có duy nhất một “United Kingdom” – vương quốc Anh nên ta phải dùng “the United Kingdom”.

4. English
- Câu sai là khi bạn gọi một người đến từ xứ Wales, Scotland, hoặc Ireland là “English” và Câu đúng: Bạn có thể gọi một người đến từ xứ Wales là “Welsh” hoặc “British”, đến từ Scotland là “Scottish” hoặc “British”, từ Ireland là “Irish” (hoặc “Northern Irish” nếu người đó đến từ Bắc Ai-len). “English” chỉ dùng để chỉ người đến từ “England”.

5. Biểu thị sự đồng tình với các câu phủ định

  • Khi người bạn của bạn nói: “I don’t like cats”. Bạn đáp lại: - Câu sai: “Me too”. và Câu đúng: “Me neither” (hoặc “I don’t, either” hoặc “Neither do I”)
  • Khi một người dùng dạng phủ định để nói có nghĩa là động từ chính có dùng “NOT” và bạn cũng đồng tình với ý kiến đó, bạn phải nói “Me neither”. Ngược lại khi một người bạn nói: “I dislike cats”. - Câu sai: “Me neither”. và Câu đúng: “Me too” (hoặc “I dislike cats, too”) Mặc dù ví dụ này cũng diễn tả ý như ví dụ trên nhưng động từ chính của câu “I dislike cats” không dùng “NOT”.
Tất cả các từ này ít nhiều đều giống nhau, chúng đều chỉ một điều gì đó có thể xảy ra, có thể thực hiện được, có thể có thực nhưng chúng được sử dụng trong các ngữ cảnh khác nhau.

6. Maybe – Perhaps – Possibly

  • “Maybe:” là một từ không trịnh trọng thường được dùng trong ngôn ngữ hàng ngày. Ví dụ: “Are you going to Mary’s party?” – “Hmm… maybe”.
  • “Perhaps”: là một từ lịch sự hơn, không quá trịnh trọng mà không quá bỗ bã. Đây là một cách thông thường để diễn tả khả năng có thể xảy ra. Ví dụ: “There were 200, perhaps 230 people at the concert”.
  • “Possibly”: mang nghĩa trịnh trọng hơn 2 từ trên đặc biệt thường được dùng trong thỏa thuận hay bất đồng. Ví dụ: “Do you think she will pass the exam?” Câu trả lời có thể là: “Hmm… possibly, possibly not”. Hoặc: “She may possibly pass the exam”.
Nhìn chung, có sự khác biệt khi dùng: “maybe” chỉ sự thân mật, không trịnh trọng, còn “perhaps” không quá thân mật mà cũng không quá trịnh trọng, “possibly” được dùng hơi trịnh trọng hơn một chút.

7. Hear – Listen

Về ý nghĩa
  • “Hear”: nghe thoáng qua (“to be aware of sounds with ears” – nghe mà chưa có sự chuẩn bị và chủ tâm trước khi nghe) Ví dụ: I can’t hear very well. (Tôi không thể nghe rõ lắm) - We could hear her singing. (Chúng tôi có thể nghe thấy cô ấy hát)
  • "Listen”: nghe chú ý và có chủ tâm, ai đó, cái gì vừa mới được nghe thấy (“to pay attention to somebody / something that you can hear”). Ví dụ: We listen carefully to our teacher of English. (Chúng tôi chăm chú nghe giáo viên tiếng Anh của chúng tôi)
Về cách dùng
  • “Hear” không được dùng trong các thời tiếp diễn.
  • “Hear” đi với động từ nguyên thể có “to” (to – Vinfinitive) Ví dụ: He has been heard to go to America with his girlfriend. (Nghe đồn anh ta đã đi Mỹ với cô bạn gái).
  • “Listen” có thể được dùng trong các thời tiếp diễn. Ví dụ: We are listening to our teacher at the moment.
  • “Listen” được dùng để lưu ý mọi người một điều gì đó. Ví dụ: Listen! There is someone knocking at the door.
  • “Listen” thường đi với giới từ “to”. Ví dụ: He often listens to music on the bus.

8. Person – People

Cả hai đều là danh từ nhưng khi nào thì dùng “person” khi nào dùng “people”? Trước hết là danh từ số ít và số nhiều. Trong tiếng Anh phần lớn các danh từ số ít được tạo thành danh từ số nhiều bằng cách thêm “-s” vào cuối danh từ. Ví dụ: girl và girls , student và students
Nhưng một số danh từ có dạng số nhiều bất quy tắc: Ví dụ: child và children, person và people => Vì vậy chúng ta nói: 1 người: “one person” - 2 người: “two people” - nhiều người: “many people”
There were a lot of people at the concert. “person” cũng được dùng trong một cụm từ có chức năng như một tính từ bổ nghĩa cho danh từ sau nó để tạo thành một cụm danh từ. Trường hợp này không được thêm “-s” vào “person” hay biến đổi “person” thành “people”.
Ví dụ: a four – person car (một chiếc xe ô tô 4 chỗ). Tuy nhiên, đôi khi chúng ta gặp từ “persons”. Ví dụ, trong thang máy người ta viết: “five persons only” hay nếu ta nghe tin tức thì từ “persons” cũng được dùng như: “Four persons were injured in the accident”. Từ “persons” được dùng trong ngữ cảnh trịnh trọng là dạng số nhiều mang sắc thái trịnh trọng hơn. Có lúc chúng ta gặp từ “peoples”. Ngoài nghĩa là người, “people” còn được dùng để chỉ một dân tộc “nationality” – tất cả người của một quốc gia như: “the people of Vietnam”.
Khi chúng ta nói về nhiều dân tộc khác nhau, chúng ta phải dùng từ “peoples”: Ví dụ: “the peoples of South America” (các dân tộc Nam Mỹ). Đây là cách dùng hơi khác và ít thông dụng của từ “peoples”.

9. Good – Well:

  • “Good” là một tính từ với nghĩa tốt, giỏi. “Well” thường được coi là trạng từ của “good”.
  • “Good” thường đi kèm với một số động từ “to be, to seem, to appear, to turn, to look…” và đứng trước danh từ để bổ nghĩa cho danh từ đó “a good student, a good mark…”. Sử dụng tính từ này để miêu tả cái gì đó, hoặc ai đố; nói cách khác sử dụng “good” khi thể hiện ai đó hoặc cái gì đó như thế nào.
  • “Well” khi được coi là trạng từ của “good” thì thường đi kèm với các động từ thông thường, dùng để miêu tả việc ai đó, hoặc cái gì đó làm gì như thế nào.
Ví dụ: Câu sai: She did the test good. và Câu đúng: She did the test well.
  • Tom is a good footballer.
  • She speaks English well.
  • He looks good in his new suit.
Ngoài ra “well” còn được coi là tính từ với nghĩa là “khỏe”. Ví dụ: How is she now? – She’s well.

10. Made of – Made from

  • “made of”: làm bằng (vật liệu dùng để làm vật đó không thay đổi nhiều so với sản phẩm làm ra, nhìn vào sản phẩm thấy luôn được vật liệu làm ra nó)
  • “made from”: làm bằng (vật liệu dùng để làm vật đó đã được chế biến và không còn nhìn thấy vật liệu đó nữa)
Ví dụ: Khi muốn nói: “Cái bàn này làm bằng gỗ”
- Ta nói: This table is made of wood.
- Không nói: This table is made from wood.
Nhưng khi muốn nói: “Bánh mì được làm bằng lúa mì”
- Ta nói: Bread is made from wheat.
- Không nói: Bread is made of wheat.

Theo Academy.vn

Phương pháp giúp bạn ẵm trọn điểm bài nghe Điền thông tin vào bảng

Dạng bài nghe Điền thông tin vào bảng làm khó bạn? Hay bạn thường sai những lỗi ngớ ngẩn không đáng có? Hãy tìm hiểu ngay cách để lấy được trọn điểm dạng bài này nhé!
Trước khi vào làm, hãy sử dụng 30 giây chuẩn bị thật tốt. Bạn nên cố gắng dự đoán một số câu trả lời và tốt hơn hết bạn nên hiểu nội dung bảng một cách tổng quát nhất .
Trước khi nghe – hiểu nội dung của bảng
Vấn đề đó là trước mỗi bài nghe, bạn nên dành 30 giây để làm tất cả những việc sau:
  1. Hiểu bạn đang chuẩn bị nghe gì
  2. Hiểu cách bảng được cấu thành
  3. Đoán dạng câu trả lời nào bạn có thể cần
Bạn nên chú ý rằng có nhiều ý kiến khác nhau ở đây. Hãy đảm bảo có thể hiểu nội dung của bảng một cách tổng quát và cố gắng đoán câu trả lời.
Vấn đề đơn giản là:
  • “Nếu bạn biết bạn đang nghe gì, bạn sẽ nghe tốt hơn!”
Ví dụ
Bài nghe nói về cái gì?
Đây là một trong những việc bạn thực sự cần làm trước khi nghe. Tất cả những thông tin trong bảng sẽ liên quan đến bài nghe ở từng phần tương ứng. Biết được điều này sẽ giúp bạn nghe tốt hơn.
  • Bảng nói về cái gì?
Hiểu được dàn ý của bảng
Đây là việc thứ hai bạn cần làm trước khi nghe. Bạn phải tìm hiểu bảng được cấu thành như thế nào, kết cấu theo chiều dọc, chiều ngang hay theo từng hàng. Thông thường, đầu đề sẽ cung cấp nội dung tổng quát của đoạn hội thoại và các câu thường được sắp xếp theo thứ tự. Các câu hỏi cần trả lời là:
  • Nhìn những đầu đề trong bảng này. Ba phần chính trong đó là gì?
  • Nhìn số lượng câu hỏi. Bạn sẽ nghe cái gì đầu tiên?
Dự đoán câu trả lời
Bạn có thể không làm điều này trước khi nghe, nhưng bạn vẫn có thể làm nó trong khi bạn nghe.
Một số dự đoán về câu trả lời có thể là :
  • Loại từ nào có thể là câu trả lời số 2? Đọc lướt bảng và bạn có thể sẽ đoán được.
  • Câu số 3? Nhìn những chi tiết khác trong khung và bạn có thể sẽ đoán được.
  • Vậy câu 4? Lần nữa, đọc lướt bảng và bạn cũng có thể đoán được.

 Sau khi đã đọc kĩ những hướng dẫn trên, hãy áp dụng bằng cách làm thử một vài bài tập nhỏ để thấy sự tiến bộ khi làm bài nghe dạng này nhé các bạn.

Nguồn: beattheielts

22 thg 9, 2015

Những điều hay ho về tiếng Anh bạn đã biết chưa?

Nước Anh, Mỹ không có viện ngôn ngữ trong khi Nam Phi là quốc gia nói tiếng Anh duy nhất có viện hàn lâm tiếng Anh.



Xem thêm:


Không có viện ngôn ngữ

Nếu viện hàm lâm nghiên cứu ngôn ngữ của tiếng Pháp là L’Académie française ở thủ đô Paris, tiếng Tây Ban Nha là Real Academia Española thì tiếng Anh lại không có viện hàn lâm chuyên nghiên cứu về ngôn ngữ này.

Điều này được giải thích bởi các lý do về chính trị. Ý tưởng về việc thành lập một viện ngôn ngữ đã được đưa ra vào đầu thế kỷ 18. Nữ hoàng Anne đã đồng ý nhưng chưa kịp ban bố quyết định chính thức thì đã qua đời và khiến việc thành lập viện ngôn ngữ bị bỏ ngỏ.

Viện ngôn ngữ tại Mỹ cũng từng được thành lập nhưng đã phải đóng cửa sau 2 năm vì không được công chúng ủng hộ. Quốc gia nói tiếng Anh duy nhất trên thế giới có viện ngôn ngữ là Nam Phi trong khi Anh là quốc gia khởi nguồn của ngôn ngữ này, còn Mỹ là nơi có số người nói tiếng Anh lớn nhất thế giới.

Hơn một tỷ người đang học tiếng Anh

Một tỷ là con số thống kê của Hội đồng Anh vào năm 2000. Số lượng người học tiếng Anh vào thời điểm hiện tại có thể cao hơn nhiều.

Trong hơn một thế kỷ, giới quý tộc của Anh không biết nói tiếng Anh

Những người Pháp (người Norman đến từ miền Bắc quốc gia này) sau khi xâm chiếm Anh đã không học tiếng Anh. Thay vào đó, họ mang theo tùy tùng người Pháp, làm việc với thương nhân người Pháp và khiến những người Anh phải học tiếng Pháp, trộn lẫn tiếng Pháp và tiếng Anh để bắt kịp thời đại. Khoảng 10.000 từ tiếng Pháp đã được thêm vào tiếng Anh trong giai đoạn này.

Ý tưởng về việc viết đúng chính tả mới xuất hiện gần đây

Có nhiều lý do khiến tiếng Anh không có nguyên tắc chính tả thống nhất, chẳng hạn như vì không có một viện hàn lâm nghiên cứu về ngôn ngữ này để đưa ra các quy định chặt chẽ. Đến tận thế kỷ 17, cuốn từ điển tiếng Anh đầu tiên mới được xuất bản và vấn đề này được cân nhắc, gây ra sự tranh cãi mang tính học thuật. Một ví dụ điển hình về việc thiếu tính thống nhất trong quy tắc chính tả là chính Shakespeare cũng thường viết một từ theo nhiều cách khác nhau. Tên của ông có nhiều kiểu đánh vần trong các thế kỷ mà không xác định được cách viết chính xác.

Dù bạn thích hay không thì tiếng Anh sẽ còn thay đổi nhiều

Điều duy nhất không thay đổi chính là nguyên tắc "ngôn ngữ sẽ thay đổi". Nếu không, nó sẽ trở nên mang tính học thuật đơn thuần như tiếng Latin, Hy Lạp cổ. Các từ mới sẽ luôn xuất hiện. Nếu bạn thử hỏi một người của 20 năm trước là hãy "google" một người bạn trên "facebook", hẳn anh ta sẽ tròn mắt lên nhìn bạn, hoặc yêu cầu bạn đánh vần lại các từ này.

Ngữ pháp thay đổi chậm hơn từ vựng nhưng vẫn có những thay đổi nhất định. Ví dụ như, từ "whom" đã dần bị thay thế bởi "who". Chẳng hạn như "Who can you blame?" được sử dụng rộng rãi thay cho "Whom can you blame?".

Theo Oxforddictionaries

Speaking Part 2 – 2 phút nói, bao nhiêu là đủ?

Kiểm soát nội dung là một kĩ năng cực kỳ quan trọng của IELTS Speaking part 2 – vậy bạn có biết bao nhiêu từ là đủ, tốc độ nói thế nào là phù hợp trong phần này?


Xem thêm:

Hiện nay có rất nhiều nơi đưa ra các bài speaking mẫu rồi nói band 8 hay band 9 này nọ. Điều này là một điều tốt khi các bạn có thể nhìn vào script để học tập các từ vựng ở band điểm cao nhằm nâng cao từ vựng. Nhưng vấn đề đặt ra là, trong 2 phút của part 2, họ nói dài như cả một bài essay writing task 2. Điều này liệu có khả thi cho các bạn?
1. Khả thi không đây?

Trong 2 phút để nói hết một bài essay, kể cả cầm lên đọc cũng là rất khó với một người bản xứ. Vậy mà gần đây có nhiều thầy cô cả Tây lẫn Việt đăng các sample dài tới cả 300 từ rồi nói đó là bài band 9.
Đó là chưa kể khi đi thi bạn đâu có thể cầm giấy đọc? Bạn còn mất thời gian nghĩ idea, để chuyển thành ngôn ngữ của bạn.
Đồng thời, việc tham nói quá nhanh sẽ dẫn tới bạn bị vấp, mất tập trung vào các vấn đề như phát âm, từ vựng, các lỗi ngữ pháp.
Một ví dụ cụ thể là thầy Simon – một người bản xứ – và nổi tiếng với phong cách nói IELTS rất đơn giản cũng có chút vấn đề trong việc quản lí thời gian:
Số từ chỉ là 190 từ – bằng một bài writing task 1 thường gặp (có thể dài hơn một chút).
Nhưng thầy nói tới 2 phút 15 giây. Một con số mà chắc chắn sẽ bị giám khảo ngắt ở 15 giây cuối. Mặc dù thầy nói với một tốc độ vừa phải, cố gắng thể hiện mình là một thí sinh trong phòng thi, nhưng thầy vẫn là NGƯỜI BẢN XỨ.
Trong khi đó bạn đâu thể trở thành người bản xứ. Nên quan điểm của mình là không thể nói dài như những bài sample khác đâu, những bài mà họ “đẻ” ra tới 200 – 300 từ.
2. Tại sao lại không thể nói 200 – 300 từ?

Thời gian trong part 2 luôn là cố định 1-2 phút để nói. Do đó, để nói được nhiều, bắt buộc bạn phải nói nhanh. Bạn cảm tưởng với 60s – 120s thì nói 200 – 300 từ, tương đương nói khoảng 4-5 từ trong 1 giây bằng tiếng Anh, với một chủ đề chưa chắc bạn đã quen thuộc ư? Khó quá là khó mất thôi.
Yêu cầu của bài speaking part 2 là:

a. Nên trả lời cả 4 câu hỏi hoặc phải đủ nội dung 4 câu hỏi – do đó việc chọn và nghĩ idea là vấn đề lớn.
b.Trả lời đúng chủ đề – do đó việc lựa chọn từ vựng đúng chủ đề mà hay là vấn đề rất quan trọng.
c. Nó vẫn là một bài kiểm tra speaking nên rất quan trọng việc nói trôi chảy, phát âm đúng. Kiểm soát các vấn đề này có khó với bạn không?
d. Ngữ pháp bạn đâu thể bỏ qua? Do đó kiểm soát các lỗi ngữ pháp và tăng các mục ngữ pháp trong bài cũng vô cùng khó.
Nói nhanh để nói nhiều các bạn chỉ đáp ứng được việc có khả năng để nói idea nhiều. Nhưng không có nghĩa các idea đó thực sự liên kết tốt với nội dung câu hỏi.
Với các vấn đề trên, nếu bạn nói quá nhanh để được nhiều bạn sẽ gặp vấn đề khó khăn với 3 yếu tố còn lại. Mà 4 yếu tố này hoàn toàn tương ứng với tiêu chí chấm thi của Speaking part 2 đó nhé, thiếu 1 trong 4 cũng “chết”. Vậy bạn đã hiểu tại sao không nên tham nói nhiều?

Điều quan trọng là giữ tốc độ nói vững vàng, không nhanh/chậm quá.
Số lượng idea – độ dài – vừa đủ để bao trọn tiêu chí a và đủ để thể hiện b + c + d.

Nguồn: beattheielts

Reading tips - Matching Headings


Xem thêm:

Câu hỏi tìm tiêu đề thích hợp cho đoạn văn:
  1. Dạng bài này yêu cầu bạn kết hợp 5-7 tiêu đề cho trước với các đoạn văn phù hợp trong bài đọc.
  2. Luôn có nhiều tiêu đề hơn số đoạn văn.
  3. Bạn có thể phải chọn tiêu đề cho cả bài hoặc chỉ một phần của bài đọc
Kĩ năng đọc – skimming (đọc lướt) và tìm ý chính
Kĩ năng quan trọng đối với dang bài này là khả năng đọc nhanh và tìm ý chính của đoạn văn.
  1. Nếu gặp phải từ mới bạn không hiểu, bỏ qua nó. Thứ cần tìm là ý nghĩ của cả đoạn, không phải của từng từ.
Đừng chỉ tìm các từ giống nhau trong tiêu đề và đoạn văn. Hãy đọc cả câu hoặc cả đoạn để hiểu các từ đó được dùng như thế nào.
  1. Chú ý đến câu mở đầu và kết thúc của đoạn văn. Đó thường là câu chủ đề của cả đoạn
Những vấn đề và cách giải quyết:
Đây  là một trong những dạng bài dễ nhưng cũng rất dễ mắc sai lầm khi làm dạng câu hỏi này. Dưới đây là một số vấn đề thường gặp:
Phải đọc cả một đoạn dài
Để làm dạng bài này bạn phải đọc phần lớn hoặc thậm chí cả đoạn. Tuy nhiên bạn có thể tận dụng việc này cho các câu hỏi khác. Làm câu hỏi này trước kể cả khi nó không phải là câu hỏi đầu tiên, từ đó bạn sẽ hiểu được bài đọc đang nói về cái gì.
Tìm các từ giống nhau
Bạn có thể tìm ra câu trả lời bằng cách tìm từ giống nhau trong tiêu đề và trong đoạn. Tuy nhiên dạng bài này thường không đơn giản là tìm từ giống nhau. Ví dụ, trong tiêu đề là “environmental” nhưng trong đoạn là là “green”.
Vì vậy, chú ý đến nghĩa của từ thay vì chính từ đó.”  Luôn nhớ rằng bài đọc có thể không có những từ giống như trong tiêu đề.
Tiêu đề tương tự nhau
Có một vài tiêu đề “giông giống” nhau và chứa các từ có nghĩ tương tự nhau. Hãy chắc chắn rằng bạn đã đọc tất cả và thử ghép mọi tiêu đề với các đoạn văn. Việc này có thể tốn thời gian nhưng sẽ giúp bạn tránh mắc lỗi.
Đừng tập trung vào những từ xuật hiên nhiều ở các tiêu đề. Tập trung vào từ chỉ xuất hiện trong một tiêu đề nhất định
Chỉ chú ý dòng đầu và lướt đi quá nhanh
Người viết thường đưa ra ý chính ngay đầu đoạn văn bởi vậy bạn thường chỉ đọc câu đầu tiên mà không đọc cả đoạn để tiết kiệm thời gian. Tuy nhiên cách làm này không phải lúc nào cũng đúng. Ý chính có thể ở cuối đoạn, hoặc đôi khi trong cả đoạn văn.
Bởi vậy, kiểm tra câu cuối cùng có phải là câu tóm tắt ý chính của cả đoạn không?
Đọc lướt cả đoạn. Có những đoạn văn chứa nhiều ý và bạn cần đọc cả đoạn để tìm được ý nghĩa chung của nó.
Tốn quá nhiều thời gian vào một đoạn
Bạn thường tốn nhiều thời gian vào câu hỏi đầu tiên vì với câu hỏi này bạn có quá nhiều lựa chọn. Rất đơn giản, hãy chọn 2/3 số tiêu đề bạn thấy phù hợp và làm câu tiếp theo. Khi quay lại, câu trả lời có thể đã rất rõ ràng. Đừng vội đoán ngay. Làm lại 2 lần và dùng kí hiệu. Ví dụ, dùng chữ in hoa (CD) cho câu trả lời chắc chắn và chữ thường (cd) cho câu trả lời chưa chắc chắn.
Gợi ý các bước làm bài
  1. Đọc các tiêu đề trước. Đừng tốn quá nhiều thời gian vào chúng vì ít nhất sẽ có những tiêu đề không đúng. Cố gắng xác định các từ quan trọng trong tiêu đề. Đọc các tiêu đề trước sẽ giúp bạn nắm được nội dung chính của bài đọc và có ích cho việc đọc bài.
  2. Đọc đoạn đầu tiên. Cố gắng bỏ qua các chi tiết và tìm ý chính của đoan – thường ở câu đầu tiên – câu chủ đề của đoạn. Nó có phù hợp với tiêu đề nào không. Đừng quên kiểm tra câu cuối, đó có thể là câu tóm tắt cả đoạn văn.
  3. Thử tất cả các tiêu đề với mỗi đoạn. Sẽ dễ mắc lỗi nếu như bạn cố làm quá nhanh.
  4. Nếu bạn phân vân giữa hai tiêu đề. Vd: a hoặc b. Hãy viết: a hoặc b. Đừng đoán và đưa ra câu trả lời vội, bạn có thể quay lại sau khi đã làm hết các câu khác.
  5. Gạch chân hoặc khoanh tròn các từ trong đoạn phù hợp với tiêu đề. Nhờ đó bạn có thể dễ dàng kiểm tra lại câu trả lời nếu bạn cũng muốn dùng tiêu đề đó cho đoạn văn sau.
  6. Chuyển đến đoạn tiếp theo và lặp lại các bước trên. Đừng quá hy vọng vào việc hoàn thành hết các câu ngay từ lân đầu tiên.
  7. Quay lại và và chọn câu trả lời cho những câu bạn chưa làm ở lượt đầu. Hãy bình tĩnh và cẩn thận, đừng nóng vội.
  8. Nếu không chắc chắn, bạn có thể dùng cùng một tiêu đề cho cả 2 đoạn. Như vậy bạn vẫn có thể có một đáp án đúng.

Nguồn: Internet.

Reading tips - Fill in the blanks

Trong bài viết này, mình sẽ giới thiệu các các yêu cầu của dạng bài này, vấn đề hay gặp phải và những kỹ năng cần thiết để “ẵm” trọn điểm cho bài hoàn thành đoạn tóm tắt. Tiếp đến, mình cũng sẽ hướng dẫn quy trình làm bài đọc dạng này và tất nhiên không quên kèm theo bài tập cho các bạn luyện tập.

Xem thêm:

Câu hỏi của dạng bài hoàn thành đoạn tóm tắt

Những câu hỏi dạng này thường yêu cầu chúng ta hoàn thành một đoạn tóm tắt từ những từ cho sẵn. Các bạn cần lưu ý:

1. Cho nhiều từ cho sẵn hơn ô trống cần điền
2. Từ cho sẵn không nhất thiết phải giống hoàn toàn từ ở trong bài đọc
3. Đoạn tóm tắt có thể nói về cả bài đọc hoặc đôi khi chỉ là một đoạn nào đó trong bài đọc
4. Trật tự ý trong đoạn tóm tắt sẽ theo như trật tự ý trong bài đọc
Những kỹ năng cần thiết

Tập trung hiểu ý nghĩa của đoạn văn đang tóm tắt về điều gì. Đừng cố điền từng từ để xem có hợp nghĩa hay ngữ pháp không.

Kỹ năng chính ở đây là đọc nhanh và nắm bắt nội dung chính của đoạn hoặc bài văn. Nếu có kỹ năng này, bạn có thể đoán được đáp án đúng thậm chí trước khi bạn phân tích đoạn tóm tắt cần điền.
Về kỹ năng từ vựng, quan trọng nhận là bạn phải nhận diện được những từ đồng nghĩa hay những từ có nét nghĩa giống nhau. Nhiều lúc, những từ trong đoạn tóm tắt sẽ không giống 100% như trong bài đọc.
Ngữ pháp cũng giúp ích rất nhiều. Mỗi từ bạn chọn để điền vào đoạn tóm tắt dĩ nhiên sẽ thỏa một chức năng ngữ pháp nào đấy. Nhận biết được điều này, bạn sẽ có thể dễ dàng chọn lựa danh từ, tính từ, động từ hay trạng từ.
Những vần đề và lỗi thường mắc phải
Nhớ rằng đoạn tóm tắt phải đúng ngữ pháp. Nên sau khi hoàn thành, bạn phải kiểm tra lại những thành phần trong từng câu và cả đoạn tóm tắt
Khi làm dạng bài này, khó khăn nhất là bạn phải đọc một đoạn văn dài thậm chí cả bài đọc. Một gợi ý đó là hãy làm dạng bài này trước thậm chí nều nó không phải là những câu hỏi đầu tiên trong phần Reading. Làm như vậy sẽ giúp bạn hiểu toàn ý của bài đọc và dễ dàng trong những câu hỏi khác
Một vấn đề khác là số chỗ trống ít hơn rất nhiều so với số từ cho sẵn (thường thường là ít hơn một nửa). Khi đó hãy chắc chắn rằng bạn đã xem qua và cân nhắc tất cả các từ trước khi điền. Cách làm này có thể tốn thời gian nhưng làm vừa phải đúng nhiều còn hơn làm nhiều đúng ít, phải không các bạn?
Nhiều bạn điền một từ bởi vì thấy từ đó xuất hiện trong bài đọc. Coi chừng mắc bẫy! Đừng làm như thế, hãy nghĩ về nghĩa và ưu tiên kiếm những từ đồng nghĩa.
Một lỗi khác là chọn từ đúng nghĩa mà sai ngữ pháp. Để tránh lỗi này, các bạn cố gắng đọc hết đoạn tóm tắt từng câu một, không nên chỉ dựa trên những từ xung quanh ô cần điền mà chọn.
Bài mẫu – từ vựng và từ đồng nghĩa

Đọc đoạn văn ngắn sau và điền vào câu tóm tắt:

Another possibility is that an asteroid or comet will crash into Earth, wiping out most if not all of mankind in seconds. In 1908, an asteroid just 60 metres in diameter exploded above Tunguska in Siberia, destroying 80 million trees. If that happened over an inhabited area, the death toll would be millions – and that was just a small hit, predicted to happen about one every 100 years. The asteroid that killed off the dinosaurs was more than 10kn across, and there are craters in Australia and Norway that suggest that similar-sized rocks have hit in the distant past.
An asteroid strike was responsible for making the dinosaurs ______________.
A. destroyed
B. dead
C. extinct
Ở đây ta thấy có cụm “kill off” có nghĩa tương đương với “extinct” (tuyệt chủng) nên đáp án C là đáp án đúng. Phương án A, B có nét nghĩa hao hao giống như chưa sát lắm
Bài tập mẫu – ngữ pháp và từ loại

Đọc đoạn văn tóm tắt, bạn có thể dự đoán về từ cần điền ?

An (1)___________ amount of young people are suffering from depression and other mental (2)__________. There is a (3)_________ with older generations who have been shown to be living longer. Research into this has been carried out by scientists in the United States. They have (4)___________ that there is almost certainly a connection between (5)___________ and mental health.



Gợi ý về quá trình làm bài

Đừng bao giờ dành quá nhiều thời gian cho 1 câu. Cứ bỏ qua, làm câu khác và quay trở lại làm sau

1. Đọc hướng dẫn thật kỹ
2. Đọc lướt qua đoạn tóm tắt để hiểu đại ý của bài đọc và đừng quan tâm đến những chỗ trống
3. Nhận diện xem thử đoạn nào trong bài đọc sẽ liên quan đến đoạn tóm tắt. Chắc bạn cũng chẳng muốn tốn thời gian đọc những thông tin không cần thiết. Vậy thì hãy đọc câu đầu và câu cuối của đoạn tóm tắt.
4. Nhìn qua một lượt các ô trống và đoán; sau đó nhìn hết một lượt các từ cho sẵn xem có từ nào phù hợp với suy đoán của bạn.
5. Trở lại và tìm trong bài đọc bằng cách tận dụng những từ khóa. Nhớ rằng hãy ưu tiên tìm từ đồng nghĩa!
6. Kiểm tra từ bạn chọn đã đúng ngữ pháp chưa – hãy kiểm tra về từ loại danh từ, tính từ, động từ hay trạng từ!

Nguồn: beattheielts